Và việc tìm ra giải pháp cho vấn đề này còn vấp phải sự dị đồng rất lớn
Thị trường cũng như các cơ quan quản lý sẽ khiến các nhà băng hành động cẩn trọng hơn. Sự kết hợp giữa các khoản nợ có hạn nhất quyết và tài sản linh hoạt trở nên khá thuận tiện. Ngân hàng là một sự phối hợp phức tạp. Dựa trên tài sản thế chấp. Chẳng hạn. Trong khi các trái chủ thường đề nghị mức lợi suất khoảng 4%. Quy định Basel III. Là cầu nối giữa người gửi tiền và người đi vay.
Họ có thể rút tiền ra mà không cần thông báo. Hoặc có thể nhanh chóng bán ra cổ phiếu và trái phiếu nếu cần tiền mặt hay gu đầu tư đổi thay.
Tuy nhiên. Nhà băng được thành lập để quản lý rủi ro nhưng thường rủi ro vẫn tiếp tục tăng cao.
BoE và Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) đã đề ra phương án giải quyết: Khi ngân hàng tiếp theo đủ lớn để trở nên mối đe dọa đối với sự sụp đổ của tất hệ thống tài chính.
Thứ nhất. Luật lệ Volcker do cựu chủ toạ Cục Dự trữ Liên bang (Fed) Paul Volcker đề xuất sớm ngăn chặn các ngân hàng nhận tiền gửi tham gia vào “hoạt động tự doanh” (về thực chất. Đó là dùng đòn bẩy. Một sự thực là nếu không có đòn bẩy để thúc đẩy lợi nhuận. Rủi ro từ đâu? Để biết tại sao nhà băng lại quan yếu như vậy.
Các cơ quan quản lý quyết định hành động thẳng thừng hơn. Bảo lãnh trái khoán do doanh nghiệp phát hành. Các ngân hàng chỉ được phép nắm giữ tài sản như tiền mặt.
Nhưng trong tuổi khó khăn. Việc tối đa hóa ROE cũng đồng nghĩa với việc nắm giữ ít tài sản an toàn hơn. Những nhà nghiên cứu này muốn các ngân hàng phát hành loại “vốn tiềm ẩn” (contingent capital) cho nhà đầu tư.
Vào giữa những năm 2000. Sự tương trợ của Chính phủ.
Đó là một hoạt động kinh doanh rủi ro cao. Tỷ lệ của các khoản thế chấp tốt nhất đã quá hạn thanh toán vượt 7% vào đầu năm 2010.
Chúng ta lại không chắc về cách để có nguồn vốn tiềm ẩn giá rẻ. Thế nhưng tài sản của người này lại là nợ của người kia.
Sẽ nằm ngoài “hàng rào” và được hỗ trợ bởi một nguồn vốn riêng. Tuy nhiên. Việc dùng quá ít các cơ chế an toàn khiến các nhà băng gặp nhiều rủi ro hơn. Chẳng hạn. Khi rơi vào khó khăn. Hay thậm chí cao hơn so với yêu cẩu của quy định Basel III. Tuy nhiên. Các khoản nợ có độ vững chắc khá cao. Các ông chủ đã tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn.
Nhưng đó có thể là một điều tốt: một cách lý tưởng.
Chính là đầu tư vào cổ phiếu. Đặc biệt là đối với các nhà băng có rủi ro. Giá trị của các tài sản có chừng độ rủi ro cao hơn – như các khoản vay thế chấp. Trái khoán Chính phủ và các khoản cho vay cá nhân chủ nghĩa và doanh nghiệp. Trên thực tiễn. Các nhà băng có thể gia tăng đòn bẩy bằng cách vay thêm từ người gửi tiền hay thị trường nợ. Phiên bản mới nhất. Họ hy vọng điều này sẽ khiến các nhà quản lý phản ứng lại bằng cách duy trì đủ nguồn vốn chủ sở hữu và các tài sản có tính thanh khoản cao để giúp các nhà băng vượt qua khó khăn.
Lãi suất cho vay thế chấp có thể lên đến 5% và lãi suất đối với các khoản vay không đảm bảo lên đến gần 10%. Các nhà băng có thể làm giảm của nả và bóp nghẹt nền kinh tế. Đó là lý do mà một số người cho rằng các ngân hàng nên duy trì một lượng vốn chủ sở hữu lớn hơn nhiều so với đề nghị của các quy định mới.
Một cách khác là cấm các nhà băng thực hiện các hoạt động rủi ro nhất. Ngân hàng có thể bán các tài sản này để bù đắp thanh khoản. Khi tỷ suất sinh lời của tuốt các loại tài sản sụt giảm. Về lý thuyết. Quản lý rủi ro đó chính là những gì mà các ngân hàng phải làm.
Ý tưởng này quyến rũ vì không chỉ là một đáp án sáng dạ cho câu đố về nợ và vốn chủ sở hữu. Bên cạnh đó. Nguồn vốn chủ sở hữu cao hơn cũng đồng nghĩa với tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn.
Có thể làm giảm lượng vốn cho vay của các ngân hàng vì các khoản vốn đệm ngày nay chỉ đủ để bảo đảm an toàn cho khoản tín dụng nhỏ hơn. Mối quan tâm của họ là các nhà băng đang bị buộc phải nắm giữ lượng vốn chủ sở hữu quá mức cần thiết. Các khoản vay này được chuyển thành vốn chủ sở hữu. Trái khoán. Không có gì phải bàn cãi khi cho rằng các ngân hàng chính là đối tượng khơi mào cho cuộc khủng hoảng cách đây 5 năm.
“Quy tắc Volcker” sẽ bảo vệ các khoản tiền gửi khỏi tác động từ sự thua lỗ của các chuyên viên giao dịch.
Công thức ROE đã ăn sâu vào ngành nhà băng và trở nên quen thuộc với mọi giám đốc điều hành cũng như cổ đông. Điều này sẽ gây nên hai ảnh hưởng
Trong một bài báo năm 2010. Điều đó lại khiến nhà băng gặp khó khăn trong việc tăng vốn theo yêu cầu của cơ quan quản lý. Cơ quan quản lý cũng đang xúc tiến thực hành vì giải pháp này cũng sẽ khuyến khích các chủ nợ tăng cường giám sát hoạt động của ngân hàng.
Nguồn vốn sẽ bị tác động đầu tiên khi giá trị tài sản sụt giảm. Vốn chủ sở hữu cũng chỉ là một trong những nguồn vốn. Khi vốn chủ sở hữu chiếm khoảng 16-20% tài sản điều chỉnh rủi ro. Các nhà băng vẫn tiếp tục cấp các khoản vay thế chấp. Nhà băng đối mặt với nguy cơ phá sản.
Ông kết luận rằng ích và tổn phí của việc gia tăng vốn chủ sở hữu là ngang ngửa. Thứ hai. Các học giả đã đúng khi nói rằng vốn chủ sở hữu cao hơn sẽ không “giết chết” hoạt động cho vay. Như vào đầu những năm 2000. Điều này đã dẫn đến rủi ro: khách hàng đổ xô đi rút tiền có thể buộc ngân hàng phải bán tài sản với giá thấp. Các hoạt động được xem là rủi ro hơn.
Anat Admati của Đại học Stanford và Martin Hellwig của Viện Max Planck cho rằng phí để tăng thêm vốn chủ sở hữu đã bị bơm. Điều đó đã góp phần giải thích vì sao thị trường cho vay dưới chuẩn của Mỹ.
Vì các nhà đầu tư cho rằng những ngân hàng lớn nhất sẽ được giải cứu trong tuổi khủng hoảng nên họ chấp thuận mức lợi suất tương đối thấp đối với trái phiếu của các ngân hàng này phát hành. Phương án triệt để là chia tách các định chế tài chính được xem là “quá lớn để sụp đổ”. Các tài sản có tính thanh khoản cao – như tiền mặt và trái khoán Chính phủ có thể được bán ra mau chóng với một mức giá tương đối ổn định – là một van xả an toàn.
Tuy nhiên. Nếu lượng nợ bị rút nhanh hơn so với lượng tài sản có thể bán ra. Các khoản vay này chiếm phần nhiều thị trường cho vay thế chấp khi chiếm hơn 20% GDP khi đạt đỉnh. Thay thế ban quản lý của nhà băng và bù đắp thua lỗ cho trái chủ cũng như các nhà đầu tư vốn cổ phần.
Nhằm phát hiện bất kỳ hành động nâng cao đòn bẩy quá mức nào của các CEO vốn đang khát khao dạo lợi nhuận. Các nhà quản lý sẽ sử dụng “bản chúc thư sống” có nội dung giảng giải cách thức giải tỏa sự găng. Đẩy tỷ lệ tài sản có thanh khoản cao và vốn chủ sở hữu giảm xuống mức thấp kỷ lục (ảnh dưới). Các ông chủ nhà băng (đặc biệt là Jamie Dimon của JPMorgan Chase) xem tỷ lệ đó là quá cao.
Các cổ đông thường kỳ vọng mức sinh lời (cổ tức và chênh lệch giá cổ phiếu) khoảng 12%. Qua đó có thể khiến ROE giảm xuống mức thấp hơn trông chờ của nhà đầu tư. Trong quá cố. Các khoản vay dành cho doanh nghiệp – có thể giảm mạnh nếu khả năng hoàn của người đi vay trở nên xấu đi.
Các tài sản tài chính của họ lại không bị buộc ràng bởi các điều khoản chém như vậy. Trong khi đó. Bộ đệm lớn hơn giúp các ngân hàng an toàn hơn. Cả Anh và Eurozone đều đề xuất “hàng rào khoanh vùng” (ring-fence) nhằm tách bạch tiền gửi của khách hàng khỏi các khoản nợ phải trả khác của nhà băng.
Vì các tài sản này có tỷ suất sinh lời thấp. Nghĩa là chỉ có thể gánh chịu khoản lỗ chỉ 2 USD trên 100 USD tài sản. Tuy nhiên. Vì nhà đầu tư có nhẽ sẽ đòi hỏi mức lợi suất cao hơn đối với các khoản nợ này. Được trả lợi suất theo yêu cầu và vốn gốc đầy đủ khi đáo hạn. Các cơ quan quản lý ở châu Âu đang dùng một chiến thuật khác. Trái khoán Chính phủ có lợi suất chỉ 2-3%.
Theo lý thuyết. Dù chỉ là một phần nhỏ của thị trường tài chính toàn cầu nhưng lại có thể gây ra rối rắm lớn như vậy.
Điều này giúp bảng cân đối kế toán của nhà băng thu hẹp một cách an toàn. Một số ngân hàng vẫn còn ậm ạch và lập lờ trong việc cải thiện theo đúng yêu cầu hoặc là quá lớn để có thể bị sụp đổ. Ở Mỹ. Bảng cân đối kế toán có thể thu hẹp vì nhiều lý do khác.
Tuy nhiên. Phản ứng chính sách quan yếu nhất là sửa đổi các quy định đối với ngành nhà băng quốc tế được duyệt y lần trước nhất tại Basel vào năm 1989. Các nhà băng vận dụng một biện pháp khác để xúc tiến ROE.
Theo đó. Gánh nặng nợ nần trên vai và tài sản “dễ vỡ” đã đẩy các ngân hàng đến bờ vực sụp đổ. Phước Phạm (Theo The Economist) công lý. Các khoản vay bất động sản thương mại cũng biến động: giá bất động sản thương nghiệp giảm gần 45% trong giai đoạn từ 2007-2009.
Điều này sẽ giúp gia tăng lượng tài sản có sinh lời so với cùng một nguồn vốn chủ sở hữu.
Giải pháp cân bằng vốn và nợ Có thể có một cách thứ ba.
Sự thận trọng do trách nhiệm chứ không phải do cách làm đã khiến các nhà băng lớn nhất thế giới vẫn đang còn là sự kết hợp rối bời của chủ nghĩa tư bản tự do. Tối đa hóa ROE và ROA Công thức đơn giản sau đây có thể giúp giảng giải sự hà khắc trên: ROE = ROA x Tỷ lệ đòn bẩy. Các ít chính thức cho thấy những nhà băng này có tỷ lệ đòn bẩy khoảng 50 khi khủng hoảng xảy ra.
Hãy bắt đầu với vấn đề tài chính tiêu biểu của một hộ gia đình hay một doanh nghiệp. Việc dùng đòn bẩy đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Giảm dùng đòn bẩy (tỷ lệ tối đa hiện thời là 33) và giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn.
Họ sẽ nắm quyền kiểm soát. Nhưng ngay cả khi “hàng rào” mới được đưa ra. Chọn lựa duy nhất sẽ là tăng ROA bằng cách ứng dụng mức lãi suất cao hơn đối với người vay tiền.
Các nhà băng thường xây dựng sự linh hoạt tài chính bằng hai cách
Hãy xem xét trường hợp nhà băng Hoàng gia Scotland (RBS) và Citi. Văn phòng hay nhà máy – đều có kì hạn nhất mực và cũng thường có lãi suất khăng khăng. Trong đó tài sản (các khoản tiền ngân hàng cho vay) không thể được điều chỉnh nhưng nợ (các khoản tiền gửi của khách hàng) lại có thể bị rút ra tức thì.
Trong một bài báo hệ trọng đến chủ đề này. Trong ngắn hạn. Giúp thu nạp các khoản lỗ của ngân hàng. “Bản di chúc sống” quờ quạng điều này đã biến các nhà băng trở nên phụ thuộc vào thị trường bị thao túng cũng như nguồn tiền của người nộp thuế. Các nhà băng có thể cần phải kéo giảm tài sản và chi phí tín dụng sẽ gia tăng. Chẳng hạn như giao thiệp cổ phiếu và chứng khoán phái sinh.
Một số thời đoạn ngành ngân hàng có tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn rất nhiều nhưng cả hoạt động cho vay và GDP đều tăng trưởng mạnh (ảnh dưới).
Trợ cấp và quy định ràng buộc. Sau cùng. Rất khó để phân biệt giữa các giao du được thực hiện nhằm phục vụ khách hàng và các giao du được thực hiện chỉ vì ích của ngân hàng. Việc nhà băng duy trì hai tấm đệm giảm sốc này là khá tốn kém: tỷ suất sinh lời của tiền mặt là 0%.
Cổ đông nhà băng nhận được thặng dư vốn khi tỷ suất sinh lời trên tài sản tăng lên. Tuy nhiên. Trong một cuốn sách gần đây. Và nếu cứ tiếp diễn ra thì có thể khiến ngân hàng co hẹp hoạt động vì nhà đầu tư sẽ đổ tiền vào nơi khác.
Việc lựa chọn nắm giữ các tài sản an toàn đã làm giảm tỷ suất sinh lời. Vì thời gian đáo hạn của tài sản và nợ phải trả không giống nhau nên các ngân hàng thường có xu hướng bằng lòng một tỷ lệ rủi ro nhất định.
Khá đơn giản. Trái phiếu và các tài sản phái sinh bằng tiền của khách hàng). Tại những quốc gia mà các gói giải cứu ngân hàng trong suốt tuổi khủng hoảng đã gây ra sự cuồng nộ. Bởi vậy chi phí của các hình thức cấp vốn khác (như trái khoán) sẽ giảm.
Song song ngăn chặn tác động của các vụ vỡ nợ lên nền kinh tế hoặc tình hình tài chính của Chính phủ. Andrew Haldane từ BoE cho rằng tổn phí vay mượn của các nhà băng đang bị bóp méo. Tuy nhiên. Nên những nhà đầu tư lớn như công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí sẽ giám sát sổ sách của ngân hàng một cách kỹ lưỡng. Thông điệp đã rõ ràng: Cơ quan quản lý không cố để ngăn chặn các vụ sụp đổ nhưng sẽ chuẩn bị để đối phó.
Điều này đã ảnh hưởng đến quyết định của ngân hàng: vì nguồn vốn này khá rẻ nên không có gì sửng sốt khi các ông chủ ngân hàng đều tìm đến nguồn vốn này nếu muốn tối đa hóa lợi nhuận.
Nghiêm khắc hơn các phiên bản trước đó trên 4 góc cạnh cơ bản về an toàn: đề nghị các ngân hàng cần phải tăng cường nắm giữ vốn chủ sở hữu và các tài sản thanh khoản.
Vì biết rằng trái khoán của mình có thể được chuyển đổi thành vốn cổ phần có mức độ rủi ro cao hơn. Vì chủ sở hữu ngân hàng phải gánh chịu thua lỗ nên các chủ nợ – người nắm giữ trái khoán và người gửi tiền – có thể yên tâm rằng họ không phải gánh chịu các khoản thua lỗ này.
Điều hiểm nguy là giá trị tài sản của ngân hàng có thể xuống mức thấp hơn so với các khoản nợ phải trả: nghĩa là nợ lớn hơn so với những gì nhà băng có và phải vỡ nợ. Một chừng độ nào đó. Mỏng năm 2011 của nhà băng Trung ương Anh (BoE) cho thấy các ngân hàng lớn nhất của Anh đều khen thưởng nhân viên cấp cao dựa trên chỉ tiêu ROE.
Sự thất bại của họ trong việc quản lý hai đích chính là căn nguyên dẫn đến khủng hoảng. Tuy nhiên.
Đáp ứng được đề nghị của các chủ nợ. Chả hạn như tiền mặt hay trái phiếu Chính phủ. Một số nhà nghiên cứu cho rằng nhà băng có thể bảo đảm cân bằng tốt hơn giữa vốn chủ sở hữu và nợ bằng cách dùng nguồn cấp vốn mang một số thuộc tính của cả hai hình thức tài trợ này.
Hơn nữa. Hoặc đem khoản lợi nhuận thu được đi cho vay hay đầu tư. Cổ đông có thể hưởng lợi. Hẳn nhiên. Chứ không phải đem sử dụng hết. Tại Mỹ. Nhà băng cần phải duy trì nguồn vốn chủ sở hữu an toàn (Nguồn vốn này cho thấy lượng tiền mà những người chủ ngân hàng đã đầu tư vào ngân hàng).
Để ngăn chặn nguy cơ này. Nhưng không một rủi ro nào trong số này nằm ngoài “hàng rào” hay bị ngăn chặn bởi các luật lệ Volcker.
Chừng như vẫn còn. Điều này có tức thị tình hình tài chính của cá nhân và doanh nghiệp được đề đạt trong bảng cân đối kế toán của nhà băng. Trong một báo cáo chung công bố năm 2012. Các khoản tài sản và nợ phải trả chưa được ban bố và tách bạch có thể gây nhiều khó khăn khôn lường. Những khế ước vay nợ này sẽ giống như trái phiếu. Các cơ quan quản lý đang chũm để thay đổi điều đó.
David Miles - một thành viên của Ủy ban Chính sách Tiền tệ ( MPC ) thuộc BoE – đã ước tính tổn phí và ích của việc gia tăng vốn chủ sở hữu.
Chia tách các tổ chức tài chính này thành các ngân hàng nhỏ và tinh gọn hơn sẽ giúp cho việc giám sát được dễ dàng hơn. Những vấn đề trên làm nảy sinh xung đột giữa một bên là mục tiêu ổn định và một bên là đích sinh lời mà các ông chủ nhà băng phải thăng bằng. Hãy coi xét các khoản vay bất động sản thương mại của Anh (các khoản vay dành cho văn phòng và trung tâm mua sắm).
Cả hai bên đều đúng. Nếu nhà đầu tư bất thần quay lưng với trái khoán của ngân hàng hoặc người gửi hà tằn hà tiện rút một lượng tiền lớn. Âm thầm hay công khai. Trong điều kiện thông thường. Tuần tự là hai nhà băng lớn nhất của Anh và Mỹ trong năm 2007 (RBS cũng là nhà băng lớn nhất trên thế giới).
No comments:
Post a Comment